10 câu hỏi có thể gặp khi phỏng vấn
Chọn theo kỹ năng và cấp của tin (Golang, Cloud (AWS, Azure, GCP), System Design & Kiến trúc). Gợi ý trả lời do Drama Công Ty biên soạn để bạn ôn nhanh, không phải đề của công ty.
01Cần xử lý 10.000 job (gọi API ngoài) với tối đa 20 job chạy cùng lúc, dừng sớm nếu có lỗi. Bạn thiết kế thế nào?Golang · Senior
Gợi ý trả lời
Ôn thêm câu hỏi Golang →Đây là bài worker pool có giới hạn concurrency. Cách gọn nhất là
errgroup(packagegolang.org/x/sync/errgroup):g, ctx := errgroup.WithContext(ctx) g.SetLimit(20) for _, job := range jobs { g.Go(func() error { return process(ctx, job) }) } if err := g.Wait(); err != nil { return err }SetLimitkhiếng.Gochặn lại khi đã đủ 20 goroutine đang chạy.- Lỗi đầu tiên sẽ huỷ
ctx; các job khác phải tôn trọngctx(truyền vào HTTP request) để dừng sớm.
Cách cổ điển: tạo 20 worker đọc từ một channel job, gửi kết quả qua channel khác, đóng channel đúng thứ tự.
Cần nghĩ thêm: rate limit phía API ngoài (
golang.org/x/time/rate), retry có backoff, có cần dừng hết khi một job lỗi hay chỉ ghi lại lỗi rồi tiếp tục.Hay sai: tạo 10.000 goroutine cùng lúc gọi API ngoài, làm cạn connection và bị đối tác chặn.
02Channel buffered và unbuffered khác nhau thế nào?
selectdùng để làm gì? Khi nào xảy ra deadlock?GolangGợi ý trả lời
Ôn thêm câu hỏi Golang →- Unbuffered: gửi bị chặn đến khi có bên nhận (và ngược lại). Đây là điểm đồng bộ giữa hai goroutine.
- Buffered (
make(chan T, n)): gửi chỉ bị chặn khi buffer đầy, nhận bị chặn khi buffer rỗng.
selectchờ trên nhiều channel cùng lúc, thường dùng cho timeout hoặc huỷ:select { case res := <-results: handle(res) case <-ctx.Done(): return ctx.Err() }Quy tắc: chỉ bên gửi đóng channel; gửi vào channel đã đóng gây panic; nhận từ channel đã đóng trả giá trị zero ngay lập tức (
v, ok := <-chđể phân biệt).for range chdừng khi channel đóng.Deadlock xảy ra khi mọi goroutine đều đang chờ nhau, ví dụ gửi vào channel unbuffered mà không có ai nhận. Runtime báo "all goroutines are asleep" nếu toàn bộ chương trình bị kẹt; kẹt một phần thì không báo gì và thành goroutine leak.
03Map trong Go có an toàn khi dùng đồng thời không? Bạn phát hiện và xử lý race condition thế nào?Golang
Gợi ý trả lời
Ôn thêm câu hỏi Golang →Không. Đọc và ghi map đồng thời có thể làm runtime dừng chương trình với lỗi "concurrent map read and map write". Các biến dùng chung khác cũng có data race nhưng thường im lặng cho kết quả sai.
Phát hiện bằng race detector:
go test -race ./...hoặcgo run -race. Nên bật trong CI.Cách xử lý:
sync.Mutexbọc map, hoặcsync.RWMutexkhi đọc nhiều hơn ghi rất nhiều.sync.Maphợp với vài trường hợp đặc thù (key ghi một lần đọc nhiều lần, hoặc mỗi goroutine dùng tập key riêng); không phải thay thế mặc định.- Bộ đếm đơn giản:
atomic.Int64. - Hoặc tránh chia sẻ: để một goroutine sở hữu dữ liệu, các goroutine khác gửi yêu cầu qua channel.
Hay sai: copy struct có chứa
sync.Mutex(truyền theo giá trị), khiến mỗi bản có một khoá riêng.go vetcảnh báo được lỗi này.04IAM role khác IAM user thế nào? Vì sao không nên để access key trong code?Cloud (AWS, Azure, GCP)
Gợi ý trả lời
Ôn thêm câu hỏi Cloud (AWS, Azure, GCP) →User đại diện cho một người hoặc ứng dụng với credential dài hạn; role là tập quyền được "đội" tạm thời và cấp credential ngắn hạn tự hết hạn.
- Ứng dụng chạy trên cloud nên dùng role gắn vào máy ảo, container, function (instance profile, managed identity, service account).
- CI/CD ngoài cloud dùng OIDC federation để lấy token ngắn hạn, không cần key cố định.
- Áp dụng least privilege: chỉ cấp đúng action trên đúng resource.
- Bật MFA cho người dùng, hạn chế dùng tài khoản root.
Access key trong code dễ lộ qua Git, log, image; một khi lộ thì dùng được tới khi bị thu hồi.
Người phỏng vấn muốn nghe: policy cụ thể, tránh
"Action": "*".05Khi nào bạn chọn serverless (Lambda, Azure Functions, Cloud Run) thay vì container hay VM?Cloud (AWS, Azure, GCP)
Gợi ý trả lời
Ôn thêm câu hỏi Cloud (AWS, Azure, GCP) →Serverless hợp với tải không đều, xử lý theo sự kiện, đội nhỏ không muốn vận hành server; trả tiền theo lượng dùng.
Hợp:
- Xử lý file khi upload, webhook, cron job, API lưu lượng thấp hoặc thất thường.
Cân nhắc:
- Cold start làm tăng độ trễ request đầu.
- Giới hạn thời gian chạy, bộ nhớ, kích thước gói.
- Tải cao và đều thì container/VM thường rẻ hơn.
- Kết nối DB: nhiều instance mở nhiều connection, cần connection pooler hoặc proxy.
- Khó debug và test cục bộ hơn.
Người phỏng vấn muốn nghe: quyết định dựa trên đặc điểm tải và chi phí, không chọn vì "đang hot".
06Định lý CAP là gì? Strong consistency và eventual consistency áp dụng thế nào trong thực tế?System Design & Kiến trúc
Gợi ý trả lời
Ôn thêm câu hỏi System Design & Kiến trúc →CAP nói rằng khi xảy ra phân mảnh mạng (Partition), hệ phân tán phải chọn giữa Consistency (mọi node trả dữ liệu mới nhất hoặc báo lỗi) và Availability (luôn trả lời, có thể bằng dữ liệu cũ). Khi mạng bình thường, trade-off thực tế là giữa độ trễ và tính nhất quán (mô hình PACELC).
- Strong consistency: cần cho số dư tài khoản, tồn kho, đặt chỗ, nơi đọc dữ liệu cũ gây thiệt hại thật.
- Eventual consistency: chấp nhận được cho lượt thích, bảng tin, số người xem, kết quả tìm kiếm.
Một hệ thống thường kết hợp cả hai theo từng loại dữ liệu. Có những mức ở giữa như read-your-writes: người vừa sửa thì phải thấy thay đổi của mình, người khác thấy chậm vài giây cũng không sao.
Hay sai: nói "chọn 2 trong 3" như thể có thể bỏ P. Với hệ phân tán, phân mảnh mạng là chuyện chắc chắn xảy ra.
07
context.Contextdùng để làm gì? Có những quy ước nào khi dùng context?GolangGợi ý trả lời
Ôn thêm câu hỏi Golang →Context mang tín hiệu huỷ, deadline và một ít giá trị gắn với request, truyền xuyên suốt chuỗi gọi hàm. Khi client ngắt kết nối hoặc hết thời gian, mọi thao tác bên dưới (truy vấn DB, gọi HTTP) đều có thể dừng sớm.
ctx, cancel := context.WithTimeout(r.Context(), 2*time.Second) defer cancel() row := db.QueryRowContext(ctx, query, id)Quy ước:
- Context là tham số đầu tiên, tên
ctx; không lưu context trong struct. - Luôn
defer cancel()để giải phóng tài nguyên. - Goroutine chạy lâu phải kiểm tra
ctx.Done(). WithValuechỉ dùng cho dữ liệu theo request (request ID, thông tin trace), không dùng để truyền tham số tuỳ chọn.
Hay sai: dùng context của request cho việc chạy nền sau khi đã trả response. Request xong là context bị huỷ; hãy dùng
context.WithoutCancelhoặc context riêng.- Context là tham số đầu tiên, tên
08
deferhoạt động thế nào? Vòng lặpforkết hợp goroutine và closure có thay đổi gì từ Go 1.22?GolangGợi ý trả lời
Ôn thêm câu hỏi Golang →deferhoãn lời gọi hàm đến khi hàm bao ngoài kết thúc (kể cả khi panic), chạy theo thứ tự LIFO. Tham số của lời gọi được tính ngay lúc gặpdefer, không phải lúc chạy.for i := 0; i < 3; i++ { defer fmt.Println(i) // in 2, 1, 0 }- Đừng
defer f.Close()trong vòng lặp mở hàng nghìn file: chúng chỉ đóng khi hàm kết thúc. Tách thân vòng lặp thành hàm riêng.
Về vòng lặp: trước Go 1.22, biến vòng lặp dùng chung cho mọi lần lặp nên goroutine hay closure thường thấy giá trị cuối cùng. Từ Go 1.22, mỗi lần lặp có biến riêng (khi
go.modkhai báo 1.22 trở lên), nên lỗi này không còn.Người phỏng vấn muốn nghe: bạn biết thay đổi này phụ thuộc phiên bản trong
go.mod.- Đừng
09When would you be available to start? Do you have a notice period?Phỏng vấn tiếng Anh
Gợi ý trả lời
Ôn thêm câu hỏi Phỏng vấn tiếng Anh →"My current contract requires a 30-day notice period, so I could start about a month after accepting an offer. I'd like to make sure I hand over my work properly to my team. If you need someone sooner, I can discuss with my manager whether an earlier date is possible, but I can't promise that yet."
Mẹo: nói đúng thời gian báo trước theo hợp đồng của bạn, đừng hứa đi làm ngay để lấy điểm. Dùng "notice period", "hand over", "start date". Tránh nói "I can go to work immediately" khi bạn vẫn còn hợp đồng.
10Điểm mạnh lớn nhất của bạn là gì?Câu hỏi hành vi & văn hoá
Gợi ý trả lời
Ôn thêm câu hỏi Câu hỏi hành vi & văn hoá →Chọn một hai điểm mạnh liên quan tới vị trí, và chứng minh bằng ví dụ thật, không liệt kê tính từ.
Cấu trúc: điểm mạnh, ví dụ ngắn, kết quả, liên hệ với công việc mới.
Câu mẫu: "Điểm mạnh của em là chủ động tìm nguyên nhân gốc. Ở dự án trước, hệ thống thỉnh thoảng bị timeout mà không ai tái hiện được. Em tự đọc log, thêm theo dõi ở các điểm nghi ngờ và tìm ra một truy vấn bị khoá bảng vào giờ cao điểm. Sau khi sửa, lỗi đó không còn xuất hiện. Em nghĩ điều này hữu ích với vị trí bên mình vì hệ thống có lượng truy cập lớn."
Hay sai: "Em chăm chỉ, ham học hỏi, chịu được áp lực" mà không có ví dụ. Ai cũng nói vậy nên không đọng lại gì.
Bạn đã phỏng vấn ở NAB Innovation Centre Vietnam?
Kể lại các vòng và câu hỏi đã gặp (ẩn danh) để người sau ôn đúng trọng tâm.
Chia sẻ kinh nghiệm phỏng vấn